xx

Wednesday, 9 March 2016

Tham nhũng sẽ hạ gục Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2030



Tham nhũng sẽ hạ gục Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2030

media
Quốc kỳ Trung Quốc trước một chi nhánh ngân hàng ở Bắc Kinh (ảnh chụp ngày 21/01/2016)REUTERS

Trong khuôn khổ khóa họp thường niên Quốc Hội Trung Quốc, khai mạc từ ngày 05/03/2016, vấn đề tham nhũng là một hồ sơ rất được quan tâm. Đối với với nhiều nhà phân tích, sớm muộn gì, tệ nạn này sẽ là sát thủ đánh gục đảng Cộng Sản Trung Quốc. Trong bài trả lời phỏng vấn nhật báo Mỹ The New York Times ngày 29/02 vừa qua, nhà Trung Quốc học Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei) tại Hoa Kỳ đã không ngần ngại cho là thời điểm mà đảng độc quyền lãnh đạo ở Trung Quốc phải thay đổi sẽ không còn xa nữa, chỉ từ nay đến năm 2030.
Về nhà nghiên cứu Bùi Mẫn Hân, New York Times nhận xét :
Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội bỏ ra cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu những đề tài nhỏ có thể giúp chúng ta hiểu được những thế lực hùng mạnh nhào nặn cuộc sống chúng ta. Hoặc chẳng có tác động gì cả. Có nhiều bài nghiên cứu chẳng bao giờ được nhắc đến.

Đối với Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei), đó không hề là vấn đề. Ông luôn đặt chỉ tiêu rất cao và không ngần ngại nhắm thẳng tới vấn đề mấu chốt khi đề cập đến một trong những chủ đề có lẽ là lớn nhất trong chính trị học : Đó là trong tương lai, liệu đảng Cộng Sản Trung Quốc còn có thể tồn tại dưới hình thức độc đoán như hiện nay hay không ?

Ông Bùi Mẫn Hân, giáo sư về quản lý chính phủ tại trường Claremont McKenna Collge, cho rằng có rất nhiều khả năng là từ nay đến năm 2030, chế độ Trung Quốc sẽ khác hẳn, bị buộc phải thay đổi do nạn tham nhũng phổ biến trong hệ thống lãnh đạo của Đảng hiện nay. 

Tham nhũng là chủ đề cuốn sách sắp ra mắt của ông, mang tựa đề « Chủ nghĩa tư bản thân hữu Trung Quốc : Động lực thúc đẩy sự suy tàn của chế độ - China’s Crony Capitalism: The Dynamics of Regime Decay ».

Trong bài trả lời phỏng vấn của báo New York Times , ông Bùi Mẫn Hân đã giải thích vì sao ông nghĩ rằng chế độ độc đảng lãnh đạo tại Trung Quốc là không thể bền vững.

Sau đây là nội dung phần hỏi-đáp :
Hỏi : Ông nói rằng đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc, để thay đổi hình thái hiện nay vào năm 2030 thì phải phá bỏ nhiều tiền lệ. Tại sao lại vào thời điểm đó ?

Bùi Mẫn Hân : Hiện nay sự phát triển xã hội kinh tế của Trung Quốc – tính trên thu nhập và trình độ giáo dục - đã đạt đến mức trung bình của các nước có đặc điểm tương tự (nghĩa là theo chế độ cộng sản, thuộc diện thu nhập trung bình và là nước châu Á), từng có một quá trình chuyển đổi từ chế độ độc tài sang một hình thức dân chủ nào đó trong 40 năm qua.

Nếu sự phát triển của Trung Quốc tiếp tục trong 15 năm tới, cho dù với nhịp độ chậm nhất, thì vào năm 2030, thì điều đó sẽ tạo ra một xã hội trong đó việc duy trì một chế độ độc đoán sẽ khó khăn hơn rất nhiều, nếu không muốn nói là không thể.

Về mặt lịch sử, không chế độ chuyên quyền nào sống sót quá 74 năm, do sự suy đồi về ý thức hệ và tệ nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo. Tính đến năm 2030, đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ nắm quyền trong suốt 81 năm.

Hỏi : Ông nhận thấy những hiện tượng gì tại Trung Quốc đã khiến ông giả định là đảng Cộng Sản đã bắt đầu phải đối mặt với sự suy tàn của chế độ và đi theo hướng mà các nước khác đã trải qua ?

Bùi Mẫn Hân : Bằng chứng quan trọng nhất là nạn tham nhũng tràn lan trong giới lãnh đạo. Sự đoàn kết trong giới lãnh đạo cũng đã tan rã, như đã thấy từ năm 2012 trong các vụ thanh trừng Bạc Hy Lai (Bo Xilai), Lệnh Kế Hoạch (Ling Jihua), Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và các thân hữu của những người này.

Sự suy đồi về ý thức hệ đã làm cho Đảng mất đi ý thức về sứ mệnh của mình, vốn là một công cụ quan trọng để động viên các đảng viên bình thường. Cái giá phải trả về kinh tế và đạo đức để duy trì chế độ độc đảng lãnh đạo thông qua đàn áp cũng lên tới mức không thể chịu đựng nổi.
Hỏi : Vậy kịch bản nào có nhiều khả năng xảy ra nhất ? Cải cách ? Cách mạng ? Hay như ông đã từng nêu ra, một sự kết hợp cả hai kịch bản mà ông gọi là « Cải cách mạng (Refolution) » ?
Bùi Mẫn Hân : Cải cách – cải cách theo hướng dân chủ hóa – vẫn là kịch bản tốt nhất, nhưng khả năng này nhanh chóng biến mất và trong lịch sử thì không một chế độ Cộng Sản nào đã tự cải tổ thành công để trở thành một chế độ dân chủ.
Cách mạng – một dạng đồng khởi theo kiểu cuộc biểu tình ở Thiên An Môn – không thể xẩy ra vì có thể bị lực lượng an ninh Trung Quốc nghiền nát dễ dàng.
Cải cách - cách mạng – một tiến trình khởi đầu với cuộc cải cách có giới hạn nhưng sau đó trở nên triệt để - là một kịch bản có nhiều khả năng hơn.

Chúng ta có thể dự báo một kịch bản như vậy vào giữa những năm 2020, khi đảng Cộng Sản, sau một thập niên suy đồi chính trị và đình trệ kinh tế, sẽ trở nên tuyệt vọng đến mức buộc phải cải cách chính trị để tự cứu mình. 

Nhưng thời cơ để cải cách không còn nữa, và cũng giống như Liên Xô trước đây, sự cải cách nửa vời đã làm rạn nứt hàng ngũ giới lãnh đạo, tập hợp các lực lượng xã hội đang muốn có thay đổi cơ bản và phát động một cuộc cách mạng.

Hỏi : Ông từng nói rằng rằng một lúc nào đó, chế độ Trung Quốc sẽ phải thay đổi. Năm 1994, ông đã công bố quyển « Từ cải cách đến cách mạng », nói đến sự cáo chung của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Một số người cho rằng giờ đây đảng Cộng Sản Trung Quốc trên nhiều khía cạnh có vẻ bền vững hơn là cách nay một thế hệ. Liệu họ có nhầm không ?

Bùi Mẫn Hân : Thực ra, trong cuốn sách đăng hồi năm 1994, tôi nói đến sự cáo chung của Chủ Nghĩa Cộng Sản, chứ không phải là của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Vào lúc đó, cũng như nhiều người, tôi đã lạc quan cho rằng cải cách kinh tế có thể làm giảm bớt sự kìm kẹp của đảng Cộng Sản và do vậy có thể dẫn đến cải cách chính trị.

Thế nhưng, các sự kiện xẩy ra sau đó cho thấy giả định này quá giản lược. Chúng tôi đã không dự tính tới việc thành công kinh tế có thể giúp tăng cường vai trò của Đảng trong một giai đoạn đáng kể và ngăn chặn thay đổi chính trị.

Tuy nhiên, do tính chất cướp đoạt của chế độ độc đảng, thành công kinh tế như vậy cũng sẽ không kéo dài. Tôi đã đưa ra kết luận này trong cuốn sách « Con đường quá độ đầy cạm bẫy của Trung Quốc », xuất bản năm 2006, sau khi chứng mình rằng hiện đại hóa kinh tế dưới chế độ độc đảng lãnh đạo sẽ tất yếu thất bại.

Đối với các nhà phân tích cho rằng Đảng Cộng Sản hiện nay bền vững hơn trước, thì các yếu tố mà họ nêu ra giờ đây không tồn tại nữa. Tăng trưởng đang chậm lại. 

Đảng đang trong tình trạng hỗn loạn, bởi vì các quy định mà Đảng thiết lập nhằm hạn chế các cuộc đấu đá chính trị nội bộ đã sụp đổ. Chính sách đối ngoại của Bắc Kinh đang đưa quan hệ Trung-Mỹ đến chỗ xung đột. Sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu bắt đầu suy giảm do môi trường xuống cấp, dịch vụ tồi tệ, bất bình đẳng và tham nhũng.

Hỏi : Trong lĩnh vực đầu tư, có một tục ngữ là thành tích của quá khứ không bảo đảm kết quả trong tương lai. Vậy có hữu ích hay không khi dùng ví dụ của các nước khác để dự báo những gì có thể xẩy ra tại Trung Quốc ?

Bùi Mẫn Hân : Thực ra, tục ngữ này cũng áp dụng cho chính đảng Cộng Sản Trung Quốc. Có nghĩa là các thành công trong quá khứ của Đảng không bảo đảm cho sự sống sót của họ trong tương lai. Khi nghĩ đến tương lai của Đảng, các ví dụ của những nước khác cung cấp những hiểu biết cần thiết về việc giới cầm quyền phản ứng ra sao trước các môi trường thay đổi.

Trung Quốc có thể là một đất nước to lớn, nhưng cũng do những con người lãnh đạo, và giống như đồng nhiệm tại các nước nhỏ bé hơn, họ đưa ra những lựa chọn bị hạn chế do các ràng buộc thực tế và đoán trước được. 

Trong ngành chính trị học so sánh, việc sử dụng các ví dụ của những nước khác không chắc mang lại kết quả tốt, nhưng đây vẫn là cách tiếp cận tốt nhất, giống như nghiên cứu một cây trồng trong lúc rừng chưa tồn tại.

Hỏi : Các lãnh đạo Trung Quốc muốn tránh cái « bẫy thu nhập trung bình » ngăn cản nhiều quốc gia chuyển tiếp lên quy chế thu nhập cao. Phải chăng Trung Quốc không thể làm được việc này nếu không cải cách chính trị ?

Bùi Mẫn Hân : Theo sử liệu thì tình hình không phấn khởi lắm cho đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ngoại trừ các nước sản xuất dầu lửa chuyên chế, chế độ bán dân chủ Singapore và Hồng Kông nguyên là thuộc địa của Anh, chỉ có những nền dân chủ đã được xác lập từ lâu và các nước vừa dân chủ hóa mới thoát được cái « bẫy thu nhập trung bình ».
Ngoài các thách thức cải cách kinh tế thuần túy, lịch sử cho thấy rõ hai việc. Thứ nhất là các thể chế độc tài dường như sẽ rơi vào mức thu nhập trung bình. 

Đó chính là vì sao chúng ta không thấy có các chế độ chuyên chế thu nhập cao ngoài các nước sản xuất dầu lửa. Thứ hai là các chế độ độc tài đã cướp quá nhiều từ xã hội và không thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Điều này không có nghĩa là chỉ có dân chủ hóa mới dẫn đến thu nhập cao. Sẽ không như vậy. Nhưng gạt bỏ chế độ độc tài là một điều kiện cần thiết, tuy chưa đủ, để đạt được thu nhập cao.

Hỏi : Giới chuyên gia và phân tích chính trị khác tại Trung Quốc đón nhận lập luận của ông như thế nào ?

Bùi Mẫn Hân : Lập luận của tôi đã làm dấy lên nhiều mối quan ngại, nhưng cũng nhiều ý kiến bi quan. Điều này có thể hiểu được vì sự chuyển đổi chế độ là một sự kiện có tính xác suất cực kỳ thấp. Nhưng chúng tôi cũng muốn tránh lập lại sai lầm như là đã không thấy được sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết hoặc Mùa Xuân Ả Rập.

Với tư cách là một hoạt động trí tuệ nghiêm túc ẩn chứa nhiều hệ lụy chính trị sâu sắc, cuộc tranh luận một cách có hệ thống và dựa trên những bằng chứng về tương lai Trung Quốc là một công việc lành mạnh và được mong đợi từ lâu.



Nghi vấn về khả năng cải tổ kinh tế của Trung Quốc

Bắc Kinh phá giá đơn vị tiền tệ gần một chục lần trong 18 tháng nhưng vẫn không tạo đà cho khu vực xuất khẩu. Cơ quan thẩm định tài chính Mỹ Moody’s hạ triển vọng định hạng tín nhiệm nợ của Trung Quốc khi nợ của các doanh nghiệp cao gấp đôi so với của các doanh đối tác ở Hoa Kỳ. Nợ của các tập đoàn doanh nghiệp Nhà nước, quả bóng sắp vỡ.

Tại cuộc họp cấp bộ trưởng Tài Chính G20 ở Thượng Hải trong hai ngày 26 và 27/02/2016, thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên đã trấn an các đối tác là « không có dấu hiệu báo trước Bắc Kinh cần hạ giá đồng nhân dân tệ ». Cũng người đứng đầu định chế này bác bỏ mọi kịch bản Bắc Kinh lao vào một cuộc chiến tiền tệ với mục đích hỗ trợ khu vực xuất khẩu.

Nhưng chỉ 48 giờ sau khi tiễn các giới chức tiền tệ của nhóm 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới, chính ông Chu Tiểu Xuyên đã thông báo « nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái » của đồng bạc Trung Quốc 0,17 % so với phiên giao dịch hôm 26/02/2016. Cùng lúc, thủ tướng Lý Khắc Cường giải thích với bộ trưởng Tài Chính Mỹ, Jack Lew : điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một biện pháp cần thiết nhằm giảm bớt lượng sản xuất dư thừa, nhưng đồng bạc của Trung Quốc vẫn « chủ yếu là ổn định ».

Từ nhiều tháng qua, thị trường tài chính thế giới và các nhà đầu tư điên đảo vì những tín hiệu trái ngược nhau trong chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos-Thụy Sĩ cuối tháng 1/2016, tổng giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế -IMF bà Christine Lagarde đã chỉ trích chính sách tiền tệ của Bắc Kinh « kém mạch lạc », đặc biệt là trong bối cảnh đến tháng 10/2016 đồng nhân dân tệ chính thức tham gia rổ tiền tệ của IMF để trở thành một trong 5 đơn vị tiền tệ quốc tế được hưởng quyền trích xuất đặc biệt bên cạnh đồng đô la Mỹ, euro của châu Âu, bảng Anh và yen Nhật Bản.

Hạ giá đồng tiền, đũa thần hết thiêng ?
Sáu tuần lễ sau khi chứng khoán Trung Quốc bị chao đảo, từ 3 đến 5 tỷ đô la « bốc hơi », vào tháng 8/2015 Bắc Kinh đột ngột hạ giá đơn vị tiền tệ 5 % so với đồng đô la Mỹ. 

Cả thế giới đồng loạt lên án Trung Quốc dùng đồng nhân dân tệ như một công cụ để châm thêm củi lửa cho khu vực xuất khẩu đang bị hụt hơi. 

Trong tháng Giêng 2016, đồng tiền của Trung Quốc lại mất giá thêm 1,4 % so với đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ. Cùng lúc, hơn 750 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc không cánh mà bay. Khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đang từ hơn 3.800 tỷ đô la năm 2014 rơi xuống còn chưa đầy 3.200 tỷ.

Kèm theo đó là hiện tượng các nhà đầu tư Trung Quốc đua nhau tích trữ đô la đề phòng đồng nhân dân tệ còn mất giá thêm nữa. Trong khi đó Bắc Kinh lại không hoàn thành mục tiêu tiếp sức cho khu vực xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong tháng Giêng 2016 giảm 11,2 % so với cùng thời kỳ năm ngoái ; nhập khẩu của quốc gia từng được mệnh danh là « công xưởng của thế giới » trong cùng thời kỳ giảm hơn 19 %. Cả hai dấu hiệu đó chứng minh là nền kinh tế số 2 trên thế giới đang chựng lại, tăng trưởng rơi xuống mức thấp nhất từ 25 năm qua, chỉ đạt 6,9 %.

Những yếu tố như đơn vị tiền tệ mất giá, không có tăng trưởng, trong lúc đầu máy xuất khẩu bị trục trặc càng khiến giới quan sát lo ngại ban lãnh đạo trong tay chủ tịch Tập Cận Bình và thủ tướng Lý Khắc Cường đang bất lực trong việc cải tổ kinh tế. Nợ của các doanh nghiệp Nhà nước tăng từ kỷ lục này tới kỷ lục khác.
Nợ Trung Quốc, quả bom sắp nổ
Ngày 02/03/2016 cơ quan thẩm định về mức độ rủi ro tài chính Moody’s của Mỹ hạ triển vọng định hạng tín nhiệm nợ của Trung Quốc đang từ « ổn định » rơi xuống còn « tiêu cực ».
Theo thẩm định của Moody’s nợ công của Trung Quốc năm 2015 tương đương với 40,6 % tổng sản phẩm nội địa của quốc gia này. Nhưng theo tính toán của cơ quan Standard & Poor's được công bố hồi tháng 7/2014, chỉ riêng nợ của các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước là 160 % so với mức vốn thực sự và tổng nợ của các doanh nghiệp này cách nay hơn 1 năm đã tương đương với 16.000 tỷ đô la và trong 5 năm tới, nợ của các doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc sẽ còn tăng thêm 77 % để đạt kỷ lục chóng mặt là 28.800 tỷ đô la.
Thêm một cơ quan thẩm định tài chính thứ ba của Mỹ là Fitch nhập cuộc khi báo động về « nhịp độ » các ngân hàng mở van tín dụng cho khu vực xuất khẩu. Theo cơ quan này, biện pháp đó cho phép các doanh nghiệp thanh toán các khoản chi tiêu, không bị thiếu hụt ngân khoản … Nhưng đó chỉ là những biện pháp ngắn hạn, và kèm theo sau là núi nợ của các công ty lại càng được thổi phồng thêm. Nợ khó đòi được chuyển từ khu vực sản xuất sang bên ngân hàng.
Trong bối cảnh cả xuất khẩu lẫn tiêu thụ nội địa đều ủ rũ, các doanh nghiệp lại chậm cải tổ và chậm giải quyết bớt những khoản nợ lưu cữu, núi nợ hàng trăm ngàn tỷ đô la đó đang trở thành một quả bóng dễ vỡ.
Thông cáo đề ngày 02/03/2016 của Moody’s lo ngại Trung Quốc không có khả năng cải tổ kinh tế.
Trước khi phân tích xa hơn về những nguyên nhân khiến Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm Trung Quốc, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trở lại với bối cảnh chung của nền kinh tế thứ nhì trên thế giới :
Nguyễn Xuân Nghĩa : Mười ngày sau hội nghị đầy thất vọng của giới lãnh đạo tài chánh và ngân hàng của 20 khối kinh tế đứng đầu thế giới - năm nay được tổ chức tại thành phố Thượng Hải - quốc gia đăng cai việc tổ chức hội nghị của nhóm G20 là Trung Quốc lại gây hoài nghi khi phiên họp của Quốc Hội khóa 12 tại Bắc Kinh là cơ hội thông báo đường hướng kinh tế của mình.
Về bối cảnh chung, kinh tế thế giới đang có nhiều biến động trên thị trường tài chánh với nguy cơ suy trầm lan rộng cho nên, như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế FMI cảnh báo, các quốc gia của nhóm G20 cần phối hợp chánh sách để kích thích sản xuất. Tuy nhiên, hai ngày hội nghị của các bộ trưởng Tài Chánh và thống đốc Ngân Hàng Trung Ương là cơ hội cho các đại biểu đổ lỗi cho nhau mà không đạt thỏa thuận về một giải pháp đồng bộ như trong một hội nghị khác của nhóm G20 vào tháng 4/2009. Thật ra, các nước còn chưa thể đồng ý về mục tiêu chứ chưa nói gì về các biện pháp phải thi hành để đạt các mục tiêu ấy.

Trong khung cảnh u ám chung, nền kinh tế có sản lượng thứ nhì thế giới là Trung Quốc lại phải trấn an các nước về nhiều mâu thuẫn. Thứ nhất là duy trì được đà tăng trưởng khả quan trước dấu hiệu sa sút nặng kể từ 25 năm qua. Thứ hai là tiếp tục tiến trình cải cách như thông báo từ ba năm qua mà chưa thực hiện. 

Thứ ba là giảm đà thất thoát tư bản và sự hao hụt của khối dự trữ ngoại tệ, từ gần bốn ngàn tỷ đô la vào hai năm trước nay chỉ còn 3200 tỷ. Thứ tư là Bắc Kinh quyết không phá giá đồng bạc trong viễn ảnh đồng nhân dân tệ còn được gọi là đồng nguyên của họ sẽ được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đưa vào rổ ngoại tệ thông dụng nhất kể từ tháng 10/2016.

Thế rồi, một tuần sau hội nghị G20, hôm 02/03/2016 công ty Moody’s hạ mức tín nhiệm của công khố phiếu Trung Quốc và trái phiếu của 25 tập đoàn tài chánh và 30 doanh nghiệp Nhà nước vì ba lý do : kinh tế trì trệ, dự trữ ngoại tệ bị bào mỏng và đồng bạc Trung Quốc mất giá.
Cuối tuần qua, khi Trung Quốc có hai hội nghị song hành là Quốc Hội Khóa 12 và Hội Nghị Hiệp Thương Chính Trị, thủ tướng Lý Khắc Cường đọc báo cáo kinh tế và công bố một số quyết định về chánh sách trong thời gian tới với lời hứa là giữ hối suất ổn định chứ không phá giá đồng bạc. Hiển nhiên là các quyết định ấy được Hội Nghị kỳ 5 của Ban Chấp Hành Trung Ương thông qua từ tháng 10/2015, rồi được Hội Nghị Công Tác Kinh Tế Trung Ương của đảng thảo luận hai tháng sau đó, nay mới được hợp thức hóa trước Quốc Hội.
Ít nhất 5 triệu nhân viên bị sa thải để giải quyết nạn sản xuất dư thừa
Nguyễn Xuân Nghĩa : Trước đây, mỗi khi quốc tế có lượng định tiêu cực về kinh tế thì Bắc Kinh lập tức phản bác là thiên hạ có ý đồ xấu, lần này thì họ tỏ vẻ chuyên nghiệp và cố chứng minh là tình hình chưa tệ như Moody’s đánh giá. Ngày 06/03/2016 trưởng ban Phát Triển Và Cải Cách Quốc Gia Từ Thiệu Sử nói là mọi tiên báo về việc kinh tế xứ này sẽ hạ cánh nặng nề đều sai và mối lo về gánh nợ hay sa thải nhân công quá nhiều đều không chính đáng. Người phụ trách về kế hoạch của Trung Ương Đảng còn khẳng định là với đà tăng trưởng hàng năm là 6,5% cho tới năm 2020 là kỳ hạn của kế hoạch năm năm 2016-2020, lợi tức người dân sẽ tăng gấp đôi so với mức 2010 để kịp chào mừng 100 năm ra đời của Đảng (1921-2021).
Về chuyện sa thải ngày 29/02/2016, bộ trưởng bộ Nhân Lực, Tài Nguyên và Bảo Vệ Xã Hội Doãn Úy Dân loan báo quyết định sẽ sa thải một triệu 800 000 nhân công trong hai khu vực sản xuất than thép của Trung Quốc mà không cho biết về thời hạn thi hành. Một ngày sau, hãng tin Reuters đưa ra lời tiết lộ của hai viên chức thân cận với giới lãnh đạo, mà giấu tên, là trong 2-3 năm tới, Trung Quốc sẽ sa thải 5-6 triệu công nhân viên trong khu vực µNhà nước. Mục tiêu là để giải quyết nạn sản xuất thừa.

Cùng với việc Bắc Kinh bắt đầu cho biết số liệu về dự trữ ngoại tệ như Quỹ Tiền Tệ yêu cầu, chi tiết đáng chú ý không kém là Bắc Kinh công khai hóa việc sa thải và nói là đã chuẩn chi 15 tỷ đô la cho việc gọi là “đổi việc làm” - chứ không phải thất nghiệp - của một triệu tám trăm ngàn công nhân.

Hai chục năm trước, khi phải chủ động cải cách doanh nghiệp Nhà nước, Bắc Kinh đã mất trước sau 11 tỷ đô la cho 35 triệu người bị sa thải từ năm 1995 tới 2003 để đi qua lãnh vực tư doanh. Lần này gánh nặng xã hội và mối nguy chính trị hẳn là cao hơn nên họ chuẩn bị sẵn 15 tỷ. 

Người ta không quên khía cạnh xã hội và chính trị ấy, khi vào đầu năm dương lịch, các doanh nghiệp Nhà nước được chỉ thị là phải tuyển dụng các bộ đội phục viên, cho nên số thất nghiệp chỉ có 4% của lực lượng lao động chắc hẳn là không đúng với thực tế. Các thị trường quốc tế đều chú ý và bình luận sự kiện ấy.

Cấp tín dụng cho doanh nghiệp trả nợ
Nguyễn Xuân Nghĩa : Bắc Kinh xác nhận là nhu cầu kích thích kinh tế có ưu tiên cao hơn nhu cầu cải cách và đề ra chỉ tiêu tăng trưởng tương đối linh động hơn, trong biên độ từ 6,5 đến 7% thay vì 6,9% như thông báo trước đây. Thủ tướng Lý Khắc Cường cũng khéo công nhận là các biện pháp kích thích áp dụng trước đây đã gây thất vọng vì không trút tiền vào các khu vực sản xuất hệ trọng nhất. 

Theo chiều hướng có thể gọi là điều chỉnh tác xạ, lần này, họ lấy thêm biện pháp nhắm vào mức cung là giảm thuế để doanh nghiệp có thêm tiền đầu tư. Nhưng về mức cầu thì họ vẫn tiếp tục chính sách tăng chi và bơm thêm tín dụng, với chỉ tiêu về bội chi sẽ lên tới 3% tổng sản lượng và khối tiền tệ lưu hành sẽ tăng 13%.

Về các biện pháp tiền tệ khó hiểu, giới quan sát quốc tế gồm các trung tâm đầu tư và nghiên cứu đều có trí nhớ và thấy là khi Bắc Kinh đặt ra một chỉ tiêu về lượng tiền tệ lưu hành, trong đó có thanh khoản và ký thác ngân hàng thì cuối cùng thực tế đều cao hơn.
Đấy là về lượng, về phẩm thì vì tín dụng Nhà nước bơm ra để kích thích sản xuất lại được đưa vào thị trường cổ phiếu để đắp vốn cho các khách nợ đi vay tiền đánh bạc và bị lỗ. Lần này, Bắc Kinh khôn ra nên muốn rót tiền vào đúng chỗ. Nhưng họ vẫn gặp bài toán cốt tủy là tiền chảy vào khu vực kinh tế Nhà nước để cấp cứu hệ thống quốc doanh lỗ lã vì nợ quá lớn. Tức là Nhà nước lại bơm tiền mà không kích thích sản xuất và chỉ để doanh nghiệp trả nợ. Người ta thấy số nợ của các doanh nghiệp nay lên tới 160% tổng sản lượng, tăng quá nhanh so với năm 2008 và thực tế còn tệ hơn mức nợ của các doanh nghiệp Mỹ, ở khoảng 70% của GDP. Cũng vì vậy mà Moody’s mới hạ mức tín nhiệm.

Doanh nghiệp « quỷ nhập tràng »

Nguyễn Xuân Nghĩa : Bắc Kinh cứ cố đạp ga nhấn tới để nâng sản xuất trong khi càng lao tới lại càng dung dưỡng các nhược điểm bên trong. Lý do vẫn là chính trị vì khu vực kém hiệu năng ấy từng là xương sống hay chủ lực của chế độ với thế lực rất mạnh trong đảng khi doanh nghiệp tư nhân vẫn bị lấn lướt như con ghẻ. 

Tuần qua, các đại biểu Quốc Hội gần với tư doanh đã nêu vấn đề này. Thực tế thì vì chính trị, Bắc Kinh vẫn cố nuôi sống loại doanh nghiệp “quỷ nhập tràng - zombies", trong một khu vực kinh tế chỉ là những xác chết chưa chôn như sản xuất xi măng hay than thép bị ế ẩm.

Khi hội nhập với bên ngoài, Bắc Kinh nghĩ rằng sẽ quản lý được mọi chuyện, mà rốt cuộc thì lúng túng vì chẳng cải tiến được hệ thống quốc doanh, không phục hồi được khu vực kinh tế lạc hậu ở bên trong mà lại cản trở đà bành trướng của tư doanh trong các khu vực dịch vụ tiên tiến hơn tại miền đông. 

Lý do là sợ kinh tế và xứ sở vỡ đôi. Cho nên, loay hoay giữa hai ngả thì Bắc Kinh đi vào nẻo cũ, là lại bơm tiền và đi vay mà chưa chắc đã đạt chỉ tiêu tăng trưởng dù rất biểu kiến và phù du. Còn chuyện có đồng Nguyên nằm trong rổ ngoại tệ quý tộc từ Tháng 10 này thì cũng phù du không kém. Trung Quốc sẽ mất nhiều tiền cho hàng mã chỉ để được tiếng phong lưu.

Moody's hạ bậc tín nhiệm Trung Quốc

  • 2 tháng 3 2016

Công ty đánh giá tín dụng Moody's của Hoa Kỳ hạ đánh giá tín nhiệm Trung Quốc từ “ổn định” xuống “tiêu cực”.
Tổ chức này cảnh báo cải cách là cần thiết nếu Trung Quốc không muốn bị hạ bậc thêm nữa.

Moody's cho biết việc thay đổi mức đánh giá dựa trên dự đoán sức mạnh tài chính của Trung Quốc sẽ tiếp tục suy giảm.
Đánh giá tiêu cực được đưa ra ngay sau khi thống kê mới nhất cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang tiếp tục đi xuống.
Moody's cho biết họ quan ngại Trung Quốc thực hiện không đầy đủ quá trình cải cách cần thiết.

Gánh nặng nợ tăng cao

“Không có những cải cách đáng tin cậy và hiệu quả, tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ chậm lại đáng kể khi gánh nặng nợ nần làm suy giảm đầu tư và cơ cấu dân số ngày càng bất lợi”- Moody's nói trong một ghi chú.
“Nợ của chính phủ có thể tăng nhanh hơn mức chúng tôi dự đoán.”
Nhưng công ty đánh giá tín dụng cũng cho biết hiện thời Trung Quốc vẫn xếp hạng Aa3, và cho rằng vẫn còn thời gian để xử lý những mất cân bằng hiện thời trong nền kinh tế và thực hiện cải cách.

Chỉ một tuần trước, Trung Quốc tìm cách trấn an cộng đồng kinh tế toàn cầu về sức mạnh của mình.
Tại hội nghị các nước G20 tại Thượng Hải, Bộ trưởng Tài chính Lâu Kế Vĩ nói Bắc Kinh có thể giải quyết những áp lực mà họ đang phải đối mặt.

Nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới, và đang phát triển với tốc độ chậm nhất trong vòng 25 năm qua. Nước này đang nỗ lực chuyển đổi từ quốc gia tăng trưởng nhờ xuất khẩu thành nền kinh tế tăng trưởng nhờ tiêu dùng và dịch vụ.
Kinh tế Trung Quốc phát triển chậm lại tạo ra những bất ổn đáng kể trên thị trường tài chính, và dẫn đến giảm mạnh giá hàng hóa.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh <

Ba giải pháp của Việt Nam ở Biển Đông

 

Ba giải pháp của Việt Nam ở Biển Đông

  • 8 tháng 3 2016
Trung Quốc đang tăng cường cơi nới đảo
Các hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông gần đây cho thấy tham vọng của Bắc Kinh trong việc độc chiếm vùng biển này. Chiến lược chiếm hữu dần dần Biển Đông này đang gây quan ngại nghiêm trọng không chỉ đối với các nước trong khu vực.

Chúng tôi nói chuyện với ông Jean-Vincent Brisset, chuyên gia từ Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp:
Ông nghĩ sao về việc Trung quốc đang cố gắng cải tạo các bãi đá chìm thành đảo nhân tạo và bồi đắp các đảo nhỏ thành lớn hơn?

Ông Brisset: Luật Biển không thừa nhận những gì được xây dựng trên những thực thể không được coi là hòn đảo. Vì vậy, trên quan điểm về chủ quyền, thì xây dựng trên những hòn đảo này cũng không làm tăng thêm cơ sở cho các đòi hỏi về chủ quyền, theo quy định quốc tế.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc xây cất thêm đó cho phép họ tăng khả năng quân sự, tăng quyền lợi kinh tế (trong các vùng biển xung quanh).
Tôi nghĩ rằng Luật Biển khá rõ ràng: sở hữu một thực thể không phải là một hòn đảo theo định nghĩa của Luật Biển, tức là không có cư dân, và không có tài nguyên riêng (đủ cho cư dân trên đảo đó sống được), thì không có giá trị đòi chủ quyền vùng lãnh hải bao quanh. Vì vậy, việc tạo ra chủ quyền lãnh hải xung quanh các "hòn đảo" này, bất kể diện tích là to hay nhỏ, là không đúng với những gì được quốc tế chấp nhận.
Dưới góc độ quân sự thì việc chiếm hữu các vị trí này có giá trị thế nào?

Ông Brisset: Về mặt quân sự, các "hòn đảo" chỉ có thể được coi như một cứ điểm nhỏ không mấy quan trọng. Lợi ích của nó chủ yếu là về kinh tế, đặc biệt cho ngư dân. Nhưng nếu diện tích vượt quá một ngưỡng nhất định, máy bay chiến đấu có thể hạ cánh được, có thể triển khai trên đó vũ khí hạng nặng, có cảng biển lớn đến mức tàu chiến có thể ghé vào lấy đồ tiếp tế... thì lại là chuyện khác.

Nguy cơ lúc đó sẽ là từ sở hữu về kinh tế, rồi sẽ mở rộng dần sang sở hữu lãnh thổ và chủ quyền. Và hành động đó tạo căng thẳng với các nước trong khu vực.
Các nước khác cũng đã mở rộng đảo nhỏ. Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Philippines đã mở rộng một số đảo, nhưng ở một quy mô khác, và họ không đòi chủ quyền biển xung quanh các đảo đó.

Trung Quốc cũng đang phải trả giá cho hành động của mình. Chiếm thêm được biển, giành được ưu thế về quân sự, nhưng cũng mất đi uy tín, trở nên không đáng tin cậy đối với các nước trong khu vực. Ông có nghĩ là cái giá đó là đắt hay không ?

Ông Brisset: Tôi nghĩ rằng hệ thống mà Trung Quốc đang dựa vào là tìm cách giành chiến thắng một cách âm thầm lặng lẽ trong các cuộc đàm phán, đồng thời dựa cả vào cán cân về quyền lực trong các mối quan hệ song phương. Trung Quốc đã rất thành công khi dùng vũ lực hồi năm 1974 trên các quần đảo Hoàng Sa, và bây giờ vẫn chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, trong lúc thế giới đều không để ý đến [những gì đã xảy ra ở đó].
Giờ đây Trung Quốc muốn mở rộng lãnh hải một chút nữa, theo cùng một cách như Trung Quốc vẫn làm, đó là chỉ nói chuyện song phương, đồng thời tuyên bố chủ quyền một số hải đảo của Việt Nam, Philipines, Malaysia...


Trung Quốc tăng hiện diện trên những hòn đảo, và sẽ dần áp đặt sự có mặt bằng cách xây dựng thêm và tăng chủ quyền thực tế. Tại thời điểm này, cách làm của Trung Quốc đang có kết quả. Trung Quốc đã tạo ra một cơ cấu hành chính hoàn toàn không được công nhận quốc tế, nhưng cơ cấu hành chính này vẫn tồn tại, về hành chính, về quân sự, về chính trị, và được gọi là Tam Sa.

Như vậy các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines có thể làm gì? Quốc tế hoá sự việc phải chăng là cách thức duy nhất khả dĩ?

Ông Brisset: Philippines đã chọn cách quốc tế hóa, kiện ra Tòa án quốc tế. Tôi nghĩ rằng đây là một cách tiếp cận khá thú vị. Bởi vì nếu chúng ta phân tích một cách đơn giản, thì Philippines có quyền hợp pháp để làm việc đó.

Bây giờ, vấn đề là đã có quyền hợp pháp rồi, nhưng ngoài ra còn phải có thực lực nữa. Đó là vấn đề khó. Một mặt, mặc dù có một số kiến nghị là nên đi theo cách này, tức kiện ra toà quốc tế, Việt Nam vẫn không làm theo, không dùng tới công cụ pháp lý hợp pháp để giải quyết tranh chấp.

Điều này thật đáng tiếc, bởi vì Việt Nam, trên bình diện pháp luật và trên bình diện chiếm hữu thực tế một số đảo Trường Sa, có những lập luận vững chắc hơn, hơn cả lập luận của Philippines, về chủ quyền của mình do người Pháp chuyển giao lại. Bởi vì trong các tài liệu chính thức được công nhận, thì quốc gia có chủ quyền các hòn đảo này vào thời điểm năm 1933, là Pháp.
Hoa Kỳ muốn thực hiện tự do hàng hải ở Biển Đông
Sau khi Pháp chuyển giao chủ quyền, đặc biệt là sau Hiệp định Geneva năm 1954, cho các nước Đông Dương, thì cho đến nay, mọi việc kém rõ ràng hơn, nhưng chủ quyền được chuyển giao đó vẫn có giá trị tồn tại. Các tranh chấp về mặt pháp lý có thể dùng pháp luật để giải quyết. Nhưng điều không may là chính quyền Việt Nam đã không chọn cách đưa ra tòa án quốc tế, là thực thể có nhiều tự do phát biểu hơn đối với Trung Quốc.
Ông có cho là nếu Việt Nam và Philippines cùng phối hợp trên mặt trận pháp lý thì sẽ có hiệu quả hơn không?
Ông Brisset: Việt Nam và Philippines kiện chung thì không nên. Vì nguyên nhân của hai nước là không như nhau, bởi vì các đảo mà mỗi nước tranh chấp không giống nhau. Vì vậy, Việt Nam và Philippines nên làm một cái gì đó, nhưng độc lập với nhau.
Philippines đã kiện, theo ý kiến của tôi, Việt Nam cũng nên thực hiện một cách tiếp cận tương tự. Tòa án sau đó có thể sẽ ít nhiều gắn hai vụ kiện với nhau. Vấn đề hiện nay là Việt Nam, theo tôi biết, vẫn không chọn cách tiếp cận tự nguyện và chủ động này để đạt được một mục tiêu cao hơn.
Nhưng nếu Trung Quốc tiếp tục từ chối không tham gia phiên toà tại La Haye?
Ông Brisset: Trung Quốc không tham gia vụ kiện, bởi vì hiện nay chỉ có một đối thủ duy nhất tại tòa án quốc tế. Nếu có hai đối thủ, 3, 4 nước cùng kiện, Trung quốc sẽ ngày càng phải đối mặt với thực tế, bất chấp ý chí riêng của mình.
Nếu một sự kết hợp giữa Việt Nam và Philippines, sau đó có thêm Malaysia, Đài Loan, thì quốc tế sẽ quan tâm hơn nhiều tới khu vực này, đặc biệt là quan tâm tới những đối với vận tải quốc tế. Chúng ta không quên rằng 40% của vận tải biển của toàn thế giới đi qua khu vực này.
Sự hiện hiện gần đây của Mỹ trong khu vực có ảnh hưởng gì tới tình hình?
Ông Brisset: Sự hiện diện của Mỹ là đi theo chính sách của Mỹ, sự hiện diện đó không trái với luật pháp quốc tế, không trái với luật pháp quốc tế trong tất cả các vùng biển của thế giới. Người Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông. Người Mỹ quan niệm sự tự do hàng hải cũng giống như quyền tự do hàng không ở một số khu vực mà Bắc Kinh đơn phương tuyên bố cách đây không lâu tại Biển Đông.
Hải quân Trung Quốc tăng cường hiện diện
Trung Quốc coi đó là một sự khiêu khích. Nhưng Hoa Kỳ đã vận dụng đúng luật pháp quốc tế. Trung Quốc có thể dám tấn công một tàu Việt Nam hay tàu Philippines, nhưng không bao giờ dám tấn công một tàu của Mỹ.

Theo ông thì các nước như Việt Nam và Philippines không có nhiều lựa chọn. Lúc này hai nước có thể dựa vào sự hiện diện của Mỹ, dựa vào cơ sở pháp lý, ngoài ra còn có những chỗ dựa nào khác?

Ông Brisset: Có ba cơ sở để đấu tranh với Trung Quốc. Về mặt quân sự, là dựa vào hợp tác vùng hay hợp tác với Mỹ. Thứ hai là cơ sở pháp lý, mà tới nay mới chỉ có duy nhất Philippines chọn.

Và cuối cùng là truyền thông.

Nhưng, cả Philippines, Malaysia hay Việt Nam đều ít dùng tới sức mạnh của truyền thông. Đó là một điều đáng ngạc nhiên, bởi vì tôi nghĩ rằng khá dễ dàng khi tăng cường truyền thông về vấn đề này. Tôi thấy hiện nay, Đài Loan đã tham gia một phần, với quan điểm còn tương đối trung dung. Nhưng Đài Loan truyền thông rất nhiều (về vấn đề này), và làm truyền thông thực ra là cách dễ dàng nhất. Tôi ngạc nhiên là cả Philippines và đặc biệt là Việt Nam đã không quan tâm đến vũ khí truyền thông.
Ông có ngạc nhiên khi thấy nhóm nước Asean phản ứng yếu ớt đến thế không?
Ông Brisset: Đã nhiều năm nay các cuộc họp quan trọng của Asean đều cho thấy một nước nào đó, thông thường là Việt Nam, cố gắng định hướng về một tuyên bố chung về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Quy tắc ứng xử này, về kỹ thuật đã sẵn sàng.


Thế nhưng rõ ràng Trung Quốc đang gián tiếp cản trở nỗ lực đạt Quy tắc ứng xử bằng cách, có thể nói trắng ra, là bỏ tiền ra mua một số quốc gia. Điều này đặc biệt rõ khi ghế chủ tịch luân phiên của Asean được trao cho Campuchia. Chính phủ Campuchia đã ngăn công bố Asean ra tuyên bố chung về Biển Đông.

Theo như lời ông thì một nước như Việt Nam không có nhiều giải pháp, và phạm vi hành động khá là hạn hẹp?
Ông Brisset: Phạm vi phản ứng của Việt Nam là rất hạn chế. Chừng nào Việt Nam không quốc tế hóa vấn đề thông qua tòa án, thông qua truyền thông, chừng nào Việt Nam vẫn hy vọng đàm phán song phương với Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ thua.

Ông Jean-Vincent Brisset là cựu chuẩn tướng quân đội Pháp. Ông nghiên cứu Trung Quốc và châu Á trong một thời gian dài. Sau khi rời quân đội năm 2001, ông chuyên sâu về các chủ đề quan hệ quốc tế và quân sự. Hiện ông là Giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Công an hay côn đồ?


Công an hay côn đồ?
09/03/2016, 06:35 (GMT+7)
Chuyện công an bị tố đánh dân gây thương tích, bị tố ăn hối lộ… thì báo chí đã đăng nhiều, mỗi năm sơ sơ cũng vài chục vụ./ Thiếu tá công an 'đại náo' học đường
Công an hay côn đồ?
Anh Nguyễn Đức Nam, bảo vệ của trường, kể lại vụ việc
Nhưng chuyện của ông thiếu tá công an Trần Vũ Khiêm, công an huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, đến trường học của con "đại náo", mới thật là chuyện lạ, chuyện khó tin.

Số là trước đó, vào tiết học Giáo dục công dân, thấy em Trần Lê Hạnh Lan, lớp 8B, ngồi bàn dưới nói chuyện riêng, em Nguyễn Ngọc Quang, lớp trưởng, quay xuống nhắc nhở. Lan liền đánh vào tay Quang. Quang quay xuống đánh vào vai Lan. 

Thấy vậy, cô giáo đang dạy tiết đó liền bắt Quang đứng dậy tường trình, rồi phạt Quang đứng tại chỗ đến hết tiết học.

Ba hôm sau, ông thiếu tá Trần Vũ Khiêm, bố của em Trần Lê Hạnh Lan, liền đến trường tìm Quang “trả thù”. Ông xông vào trường trong lúc cả trường đang giữa giờ học, và quát lớn: “Thằng Quang đâu rồi? Tao phải đánh mày”.

Thấy vậy, anh Nguyễn Đức Nam, bảo vệ của trường, chạy ra can ngăn, mời ông vào văn phòng nhà trường, nhưng ông không nghe. Một giáo viên khác là cô Hương, đang dạy dở tiết toán của lớp 8B cũng chạy ra, cùng anh Nam khuyên ông Khiêm bình tĩnh.

Nhưng ông Khiêm quát: “Đ.M, chúng mày muốn chết à?”. Quát xong, ông rút trong người ra một khẩu súng ngắn, dùng báng súng đập liên tiếp vào đầu anh Nam, khiến anh ngất xỉu.

Đánh anh Nam xong, ông chửi cô Hương: “Đ.M, mày là giáo viên chủ nhiệm mà như thế à?”, khiến cô Hương sợ quá, bỏ chạy vào lớp lấy điện thoại. 

Ông Khiêm xông vào lớp 8B khiến học sinh chạy tán loạn. Tóm được Quang, ông thiếu tá dí súng vào đầu em đe dọa, và sau khi dùng báng súng đánh vào đầu Quang 3-4 cái, ông còn đấm vào đầu em.

Khi được bà Hiệu trưởng mời vào văn phòng, ông Khiêm vẫn tiếp tục chửi bới, văng tục, và cầm cái chén uống nước định ném vào đầu cô Hương, may bà Hiệu trưởng ngăn kịp. Anh Nam sau đó được đưa vào viện, phải khâu 5 mũi.
Đã đeo quân hàm thiếu tá, thì hẳn đã được đào tạo bài bản, và phải công tác trong ngành công an ít ra cũng vài chục năm. 

Hơn thế nữa, ông thiếu tá chắc chắn phải là người hiểu biết pháp luật hơn những công dân khác. Học trò cãi lộn, xích mích, thậm chí đánh nhau, là chuyện bình thường. Nếu bức xúc, thì chỉ cần phản ánh với ban giám hiệu là xong. Nhà trường tự khắc sẽ tiếp thu, sẽ răn dạy học sinh của mình.

Thế mà không hiểu sao, ông thiếu tá của một cơ quan bảo vệ pháp luật lại có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như vậy. Chưa kể đến việc văng tục, chửi bới giáo viên ngay trong trường, là hành vi của một kẻ vô văn hóa. Dùng súng ngắn đập vào đầu bảo vệ, vừa là hành vi vi phạm quy định về việc sử dụng vũ khí của ngành, vừa là hành vi cố ý gây thương tích. Dí súng vào đầu một học sinh 14 tuổi, là hành vi đe dọa giết người. Xông vào trường gây náo loạn giữa giờ học, là hành vi gây rối trật tự công cộng.
Không biết trong đời làm công an của mình, ông thiếu tá đã bao nhiêu lần còng tay những kẻ có hành vi như trên?



Vũ Hữu Sự
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, 8 March 2016

Hoãn Dự luật Biểu tình: Sợ dân chủ hay dân oan


https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiYAxLOfALN3rfAwIYJLkdo5DTTCZAajGVyZ02c3YPPXMOzCPV5BH9uiwRF4LwLGiXr7X7a5MX81RWvB_V73GHzrOYeFqMfP3TcnP4p5GPdvJ380Gazp2P4nXu9Xc92Eokgs4Ytx7S2rAw/s1600/bit+mieng.jpgAfficher l'image d'origine

Hoãn Dự luật Biểu tình: Sợ dân chủ hay dân oan

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-03-03
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Nghe hoặc Tải xuống Phần âm thanhTải xuống âm thanh
000_Hkg10255403
Người dân giăng biểu ngữ tưởng niệm cuộc chiến biên giới phía bắc ngày 17/2/1979. Ảnh chụp tại Hà Nội hôm 17/2/2016.
AFP photo

Quốc hội Việt Nam sẽ không thảo luận Dự luật Biểu tình vào kỳ họp thứ 11 khai mạc vào 21/3/2016 sắp tới như dự kiến. Lý do vì Chính phủ chưa thể hoàn chỉnh Dự luật và chuyển sang Quốc hội. Như vậy một quyền hiến định của người dân tiếp tục bị trì hoãn từ 70 năm qua.

Nhận định về việc người dân Việt Nam không biết đến bao giờ mới có thể thực hiện quyền phản đối một cách hợp pháp qua Luật Biều tình, Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từ Saigon trình bày quan điểm:
“Ý kiến cá nhân, tôi đã nhiều lần đề nghị là những quyền hiến định không nên để bị treo đến 70 năm mà không có luật và cứ chung chung... Cho nên tôi cho rằng còn có những luật cần phải ra đời trong đó có Luật Biểu tình, Luật Lập hội và quyền được cung cấp thông tin ..v..v.. Đó là một số luật cần phải có để thực hiện quyền dân chủ đầy đủ mà Hiến pháp 2013 cũng đã qui định tiến bộ hơn nhiều so với trước. Việt Nam đang là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc việc cần phải ra những luật như vậy hết sức cấp thiết…”

Quyền biểu tình cũng như nhiều quyền cơ bản của công dân được qui định trong tất cả các bản Hiến pháp của nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, kể từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho tới Hiến pháp gần đây nhất 2013. Điều 25 của Hiến pháp 2013 khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật qui định.

Dự luật Biểu tình đã nhiều lần bị trì hoãn, mặc dù Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngay từ năm 2011 từng xác định Việt Nam cần có Luật Biểu tình để quản lý hoạt động này. Nhu cầu luật hóa một quyền cơ bản của công dân đã được ghi trong Hiến pháp là tối cần thiết, nhất là trong vài năm qua hàng trăm cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã xảy ra ở Việt Nam theo lời kêu gọi của các tổ chức xã hội dân sự độc lập, hoặc tự phát hoặc bị giật dây không rõ nguồn gốc. Điển hình là các cuộc biểu tình hồi  tháng 5/2014 để phản đối hành động của Trung Quốc, đưa giàn khoan Hải dương 981 vào thăm dò khai thác bên trong thềm lục địa của Việt Nam, ngoài khơi Quảng Ngãi.

Ý kiến cá nhân, tôi đã nhiều lần đề nghị là những quyền hiến định không nên để bị treo đến 70 năm mà không có luật và cứ chung chung... 

- Luật sư Trần Quốc Thuận
Nếu như có Luật, thì cuộc biểu tình của hàng chục ngàn công nhân vào trung tuần tháng 5/2014 có thể đã diễn ra một cách ôn hòa hơn, không theo cách bị kích động bạo lực, đốt phá hàng trăm công ty của người Hoa ở Đồng Nai, Bình Dương và nghiêm trọng nhất là ở Khu Kinh tế Vũng Áng tỉnh Hà Tĩnh gây thương vong cho 150 công nhân Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam đã phải bồi thường thiệt hại cho các công ty nước ngoài mà phần lớn là Trung Quốc và Đài Loan cả trăm tỷ đồng.

Bên cạnh những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, còn là những cuộc biểu tình của dân oan mất đất, người bị oan sai và đình công biểu tình của người lao động đòi quyền lợi. Người dân bức bách thì cứ rủ nhau biểu tình vì là quyền hiến định, chuyện không có luật là chuyện của Quốc hội.
Đường đi gập ghềnh của Dự luật Biểu tình và sự hoãn đi hoãn lại, đầu năm 2016 cử tri Việt Nam những tưởng Quốc hội khóa 13 trước khi mãn nhiệm sẽ thông qua Luật Biểu tình. Nhưng cuối cùng mọi việc vẫn như cũ, Chính phủ một lần nữa xin hoãn mà không nói rõ khi nào sẽ trình Dự luật qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong phiên họp ngày 17/2/2016 vừa qua  Ủy ban Thường vụ Quốc hội không chấp thuận đề xuất này và yêu cầu trình Dự luật đúng lịch trình. Cá nhân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã phê phán Chính phủ là làm việc thiếu nghiêm túc.

Dầu vậy trong cuộc họp báo, sau phiên họp thường kỳ ngày 29/2/2016 tại Hà Nội của Chính phủ, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ông Nguyễn Khắc Định đã cho biết là, sau khi được tin Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý cho hoãn trình Dự luật Biều tình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xác định với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là chưa hoàn tất Dự luật Biều tình để trình ra kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khóa 13 dự kiến khai mạc ngày 21/3/2016 sắp tới. Như vậy việc xem xét Dự luật Biểu tình sẽ thuộc thẩm quyền Quốc hội Khóa 14 sắp tới và bao giờ có Luật là điều chưa rõ.
Bất chấp việc chưa có Luật Biểu tình thực ra từ mấy năm qua đã diễn ra làn sóng biểu tình liên tục ở Trung Nam Bắc.

- TS Phạm Chí Dũng

Thông tin nghị trường cho biết, Ủy ban soạn thảo Dự luật Biểu tình do Bộ Công an chủ trì đã hoàn tất công việc. Tuy nhiên trong nội bộ Chính phủ không có sự thống nhất quan điểm và còn nhiều ý kiến tranh cãi như thẩm quyền cấp phép và chế tài. Bộ Quốc phòng có ý kiến phản đối mạnh mẽ nhất việc ra Luật Biểu tình, vì cho là không nên có sự đổi mới chính trị quá mức. Ngoài ra Bộ Quốc phòng viện dẫn các vấn đề an ninh quốc gia và yêu cầu tiếp tục quản lý việc tụ họp đông người qua Nghị định thay vì Luật. Những chi tiết này được ông Nguyễn Kim Khoa Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội tiết lộ trong phiên họp ngày 17/2/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và báo mạng Một Thế Giới tường thuật lại. Đại biểu Khoa cũng phản bác quan điểm của Bộ Quốc phòng, theo lời ông luật hóa quyền biểu tình là thực thi Hiến pháp chứ không phải là đổi mới chính trị.

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập một tổ chức xã hội dân sự tự phát, từ Saigon nói với chúng tôi về điều gọi là nguyên nhân chủ yếu của việc trì hoãn Dự luật biểu tình, cho dù Chính phủ có thể soạn thảo nó với thật nhiều thủ tục để hạn chế quyền biểu tình.

“Thực ra vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau chỉ là một lý do rất là bề mặt. Lý do sâu xa thực chất ở Việt Nam có hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân về môi trường. Tất cả những thành phần như vậy họ đều muốn phản ứng đối với nhà nước về những chính sách bất cập và gây hậu quả nghiêm trọng đối với vấn đề sinh kế, mưu sinh và môi trường của họ. Thành thử không có gì ngạc nhiên việc nhà nước rất sợ những thành phần dân oan, nạn nhân môi trường hay gần đây là tiểu thương biểu tình. Bất chấp việc chưa có Luật Biểu tình thực ra từ mấy năm qua đã diễn ra làn sóng biểu tình liên tục ở Trung Nam Bắc. Năm 2015 vừa rồi đã chính thức hình thành phong trào cứu lấy dân oan ba miền, những người này thường xuyên kéo tới trụ sở văn phòng tiếp dân ở Ngô Thời Nhiệm Hà Nội…”

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và một số đại biểu đã có nhiều phát biểu mạnh mẽ và được cho là hợp lòng dân trong thời gian gần đây, đặc biệt có ý kiến đòi chế tài những người có trách nhiệm trong việc chậm trễ trình dự Luật Biểu tình.

Nhìn từ bên ngoài có thể thấy sinh hoạt nghị trường bớt nhàm chán hơn, nhưng sự nâng cao vai trò Quốc hội trong sự cân bằng ba nhánh quyền lực Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp để tiến tới thịnh vượng và dân chủ lại là một câu chuyện khác. Vấn đề mà các nhà quan sát coi là một đề xuất hấp dẫn nằm trên vạch xuất phát của con đường thiên lý.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, 6 March 2016

ĐCS vẫn muốn duy trì chủ nghĩa Mác Lê Nin


http://1.bp.blogspot.com/-dUrFpgB5Ids/U1yTJTacAKI/AAAAAAAAru0/KBml8q2EoAs/s1600/1534992_786436718056626_888439879850360700_n.jpg

ĐCS vẫn muốn duy trì chủ nghĩa Mác Lê Nin

Việt Hà, phóng viên RFA
2016-03-03
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Nghe hoặc Tải xuống Phần âm thanhTải xuống âm thanh
000_Hkg9826169
Một công an và một dân phòng đứng bảo vệ trước bức tượng Lenin tại công viên bên cạnh đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội vào ngày 18 tháng 5 năm 2014.
AFP photo
Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 12 đã kết thúc với sự ở lại của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, và ra đi của những vị trí chủ chốt khác. Trong năm nay, Việt Nam sẽ có một dàn lãnh đạo mới bao gồm chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng và các bộ trưởng trong chính phủ. Hiện đã có những thông tin đồn đoán về những người sẽ nắm giữ các chức vụ quan trọng này. Vậy ai là những người có nhiều khả năng nhất nắm giữ các chức vụ quan trọng sắp tới, và liệu những thay đổi này có ý nghĩa thế nào đối với đường lối đối nội, đối ngoại trong 5 năm tới của Việt Nam?
Việt Hà phỏng vấn giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia về quan hệ quốc tế thuộc trường đại học George Mason, Hoa Kỳ.
Việt Hà: Thưa ông, đại hội đảng cộng sản VN 12 đã kết thúc, nhìn vào danh sách những ủy viên trung ương đảng và bộ chính trị, ông có thấy điểm gì khác biệt so với đại hội lần trước? liệu điều này có mang đến thay đổi nào đáng kể trong chính sách đối nội và đối ngoại của VN?
Nguyễn Mạnh Hùng: Trong bộ chính trị và nhất là trong Ban Chấp hành TƯ mới số người ủng hộ ông Dũng không nhiều như trước. Tại Đại hội này giải quyết tranh chấp cá nhân và loại ông Dũng quan trọng hơn sự thảo luận về chính sách. Thành phần của bộ chính trị lần này gồm một số người có khuynh hướng giáo điều (TBT Nguyễn Phú Trọng, Thường Trực ban Bí thư  kiêm Chủ tịch Hội đồng lý luận TƯ Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tổ chức TƯ Phạm Minh Chính, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Võ Văn Thưởng.). Tương đối nhiều người có gốc công an nắm các chức vụ trọng yếu (Đại tướng Trần Đại Quang, Trung tướng Tô Lâm, ông Phạm Minh Chính), và khá nhiều người có kiến thức hoặc kinh nghiệm quản lý kinh tế (bà Nguyễn Thị Kim Ngân, ông Nguyễn Xuân Phúc, Chủ nhiệm ban kinh tế trung ương Vương Đình Huệ, Thống đốc Ngân hang nhà nước Nguyễn Đức Bình, Bộ trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải.).
Người phụ trách tuyên giáo, ông Võ Văn Thưởng sinh năm 1970 là người trẻ nhất và, nếu cần, có thể trụ trong Bộ chính tri nhiều nhiệm kỳ. Với việc đặt ông Đinh thế Huynh, nguyên trưởng ban tuyên giáo TƯ vào chức vụ Thường trực ban Bí thư với triển vọng kế nghiệp ông Trọng khi ông rút lui trước nhiệm kỳ và đặt một người trẻ tuổi nhất kế nhiệm ông Huynh ở chức vụ trưởng ban tuyên giáo, ông Trọng hay đảng của ông ấy sắp xếp nhân sự để kiên trì chủ nghĩa cộng sản, kiên định con đường Mác Lê nin, duy trì sự độc tôn của đảng, không đi chệch hướng, không bị tự diễn biến.
Việt Hà: Có thông tin cho rằng ông Trọng sẽ chỉ ở khoảng nửa nhiệm kỳ để đảng tìm người thay thế, theo ông, ai là những gương mặt sáng giá cho vị trí này, vì sao?
Nguyễn Mạnh Hùng: Trước đại hội 12 ông Trọng muốn ông Nghị làm tổng Bí thư nhưng ông Nghị không làm được thì người ta thấy là ông Trọng nghiêng về phía ông Đinh Thế Huynh. Ông này mới được đôn lên làm Thường Trực ban Bí Thư, nhân vật thứ hai sau TBT Trọng. Tuy nhiên, nếu muốn gộp hai chức vụ Chủ Tịch nước và TBT đảng thành một để có thể chỉ huy thống nhất và làm dễ dàng thủ tục ngoại giao đồng thời tăng uy thế cho TBT khi tiếp xúc với các nguyên thủ khác, đảng có thể bầu luôn ông Trần Đại Quang vào chức vụ TBT đảng.
Việt Hà: Đại hội đảng đã kết thúc nhưng danh sách của những người đứng đầu chính phủ, nhà nước về mặt chính thức vẫn phải chờ đến khi quốc hội 14 nhóm họp vào giữa năm nay để quyết định. Tuy nhiên đã có những thông tin đồn đoán về những người sẽ nắm các vị trí quan trọng là thủ tướng, phó thủ tướng, chủ tịch nước,… ông có những thông tin gì có thể chia sẻ về những lãnh đạo mới của VN sắp tới?
Nguyễn Mạnh Hùng: Tại hội nghị toàn quốc lần thứ 12 của ĐCSVN, đảng đã quyết định giới thiệu ông Trần Đại Quang làm Chủ tịch nước, bà Nguyễn Thi Kim Ngân làm Chủ tích Quốc Hội, và ông Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng chính phủ. QH chỉ làm công việc chính thức hóa quyết định của đảng mà thôi, vấn đề là làm lúc nào. Trên nguyên tắc thì tháng 5 bầu cử quốc hội, tháng 7 quốc hội mới họp thì lúc bấy giờ mới có mấy ông mới. Nhưng ông Obama sang thăm tháng 5, không có gì cấm quốc hội hiện tại họp tín nhiệm mấy ông này. Như vậy khi ông Obama sang thì có dàn lãnh đạo mới để tiếp. Đó là một giải pháp, nếu không thì đến tháng 7 mới làm. Còn đến tháng 7 thì mấy nhân vật này gần như là chắc chắn.
000_Hkg9081458-400
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. AFP photo
Việt Hà: Theo ông di sản mà ông Nguyễn Tấn Dũng để lại cho người kế nhiệm là gì, đâu là những thuận lợi và khó khăn cho thủ tướng VN tiếp theo?
Nguyễn Mạnh Hùng: Ông Nguyễn Tấn Dũng là một người quyết đoán và dám làm, nhưng với kỷ luật “cá nhân lãnh đạo, tập thể chỉ huy” ông không có toàn quyền làm những điều ông muốn. Dưới chính quyền của ông Dũng, người ta thấy có mấy điểm đặc biệt sau đây: Về ngoại giao thì khuynh hướng thân Mỹ tăng khuynh hương thân Tàu giảm.
Về kinh tế thì VN đẩy mạnh chính sách hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế với một số các thương ước quan trọng, nhưng đồng thời nền kinh tế củng có một số khó khăn: tăng trưởng thấp, lệ thuộc nhập cảng vào TQ tăng nợ công lớn, ngân sách thiếu hụt, các công ty nhà nước không được cải tổ đến nơi đến chốn và hoạt động thiếu hiệu quả.
Về xã hội thì nạn tham nhũng lan tràn làm xói mòn tính chính thống và lòng tin vào chế độ đồng thời là một sức cản cho cải tổ kinh tế. Về chính trị thì người ta thấy sự hình thành và lớn mạnh của các nhóm lợi ích song song với hình thức vận động chính trị qua internet và sự lấp ló của các tổ chức dân sư. Đó là những vấn đề mà chính quyền kế nhiệm sẽ phải đối phó.
Việt Hà: Một số chuyên gia nước ngoài cho rằng một số ủy viên trung ương đảng là những nhà kỹ trị, trong đó có thủ tướng mới, ông có đồng ý với ý kiến này không? Nếu có theo ông điều này mang lại thuận lợi và bất lợi gì cho VN sắp tới?
Nguyễn Mạnh Hùng: Ứng cử viên thủ tướng duy nhất đảng đưa ra là ông Nguyễn Xuân Phúc. Ông này có thể coi là một nhà kỹ trị. Trong Bộ Chính Trị mới người ta thấy một số người hoặc có kiến thức chuyên môn về kinh tế hoặc đã từng có kinh nghiệm thi hành chính sách kinh tế, như bà Nguyễn Thị Kim Ngân, ông Nguyễn Xuân Phúc, Chủ nhiệm ban kinh tế trung ương Vương Đình Huệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Đức Bình, Bộ trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải.
Sự hiện diện của các nhà kỹ trị rất cần thiết vì VN đã ký một số thương ước quan trọng với những cam kết cải tổ cụ thể; họ sẽ phải thực hiện các cải tổ kinh tế cần thiết để nền kinh tế VN có khả năng cạnh tranh và lợi dụng được cơ hội do các hiệp ước mở rộng thị trường này mang lại.
Việt Hà: Vai trò của chủ tịch nước từ trước đến nay vẫn rất mờ nhạt, có chuyên gia nước ngoài cho rằng trong cương vị chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang không làm được gì nhiều nhưng ông cũng cho thấy vai trò nhất định của mình trong việc ủng hộ đổi mới doanh nghiệp nhà nước, xích lại gần hơn với Mỹ qua TPP. Theo ông vị chủ tịch nước mới có thể làm được gì để khẳng định vai trò của mình?
Nguyễn Mạnh Hùng: Hiến Pháp VN cho Chủ tịch nước nhiều quyền hành, nhưng ông Sang chọn không thi hành hết các quyền ấy.
Hiến Pháp 2013 giao cho Chủ tịch nước tư cách “đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại,” và quyền đề cử để Quốc Hội bầu và mãn nhiệm các vị trí quan trọng của nhà nước, kể cả Phó chủ tịch nước và Thủ tương.
Chủ tịch nước “thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân,” giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng; Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; Trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
Với tư cách nguyên Bộ trưởng CA, ông Trần Đại Quang có căn cứ quyền lực lớn hơn ông Sang và, nếu ông ấy có bản lĩnh, ông có triển vọng đóng vai trò quan trọng hơn so với ông Sang trong chính quyền mới trong khi đó người ta không nghĩ rằng ông Phúc sẽ là một Thủ tướng có nhiều quyền uy như ông Dũng.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tự ứng cử - một bước tiến dài


Tự ứng cử - một bước tiến dài

Vũ Thạch, gửi RFA
2016-03-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg10109896-622.jpg
Một phiên họp của Quốc hội khóa 13 trước đây, ảnh minh họa.
AFP

Người bỏ phiếu không quan trọng, chỉ cần kẻ đếm phiếu

Những tia hy vọng cuối cùng vào Đại Hội 12 vừa tắt lịm thì tin tức dồn dập nổi lên về mức tụt hậu mới của đất nước. Theo chỉ số thống kê trên nhiều mặt vào đầu năm 2016, Việt Nam nay không chỉ thua Thái Lan, Phi, Mã Lai, Nam Dương, mà còn rớt xuống một tầng thấp mới - chính thức thua cả Lào và Campuchia. Rất đông người Việt Nam đang túa sang 2 nước này để tìm kiếm "tương lai".
Chính vì thế mà việc một số những người có lòng với đất nước, từng tích cực hoạt động xã hội dân sự, tích cực phản đối TQ xâm lược, quyết định ra tự ứng cử vào Quốc Hội, đã như một ly nước lạnh mát cho cơn khát của dân tộc. Đại đa số dân cư mạng lập tức ủng hộ, khen ngợi, khuyến khích, và hân hoan tiếp tay.
Tuy nhiên, đó đây vẫn vang lên một vài tiếng nói quan tâm. Các quan tâm này không phải không có lý và có thể  rút về 2 điều lo lắng: (1) Việc tham gia ứng cử có làm loãng đi những kêu gọi tẩy chay màn kịch bi hài "đảng cử dân bầu" hiện nay không? (2) Việc tham gia vào tiến trình bầu bán có vô tình tạo thêm tính chính danh cho cái "cuốc hội công cụ" của đảng CSVN không?
Trước hết, có lẽ cần thừa nhận tác động không nhiều của việc tẩy chay bỏ phiếu. Ai cũng biết mọi chế độ độc tài đều dùng công thức: người bỏ phiếu không quan trọng, chỉ cần kẻ đếm phiếu. Nghĩa là dù người dân có bầu hay không và bầu với tỉ số bao nhiêu thì chế độ độc tài vẫn tuyên bố thắng cử gần như tuyệt đối cho các ứng viên của họ. Đó là thực tế của nhiều năm qua mà chẳng ai làm được gì. Trong khi đó, nếu nay có nhiều người dân cố tình ra ứng cử và biết trước Đảng sẽ dùng mọi mánh khóe để gạt họ ra, dân tộc ta sẽ có cả một chồng hồ sơ bằng chứng để cả thế giới thấy trò hề bầu cử tại Việt Nam và nhận chân một sự thật là hệ thống cầm quyền hiện nay KHÔNG đại diện cho dân tộc Việt Nam. Trong các cuộc bầu cử quốc hội trước, đã có vài trường hợp ứng cử rất can đảm cho mục tiêu vừa nêu, như Ls. Lê Quốc Quân, Ls. Lê Công Định... nhưng còn quá hiếm. Lần này sẽ khác!
Cũng vậy, việc những người dân vừa có lòng vừa có khả năng ra ứng cử không hề tạo thêm tính chính danh cho "cuốc hội công cụ", mà ngược lại họ cho toàn dân cơ hội so sánh. Trong lúc các đại biểu quốc hội gốc đảng  hiện nay chẳng ai dám đụng đến TQ xâm lược, chẳng ai biết gốc rễ tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng hiện nay, chẳng ai dám chỉ ra nguồn gốc các tệ nạn xã hội hiện nay chứ chưa nói gì đến giải pháp, ... thì từng ứng viên ngoài đảng đã công bố ý hướng, hoài bão, và chương trình hành động của mình. Họ không phải là những người hứa hão nhưng đã thực sự là những người biểu tình chống TQ dù phải bước đi một mình tại một quốc gia Đông Nam Á xa lạ; Họ biết rõ cách thức kiện TQ trước tòa quốc tế và sẵn sàng làm điều đó khi có vai trò đại diện quốc gia; Họ đã từng là các nhà nghiên cứu cấp quốc gia và làm kinh tế rất thành công; Họ là những người từng đi băng bó xã hội, từng đi giúp những người cùng khổ tìm công lý, ...
Tóm lại, chỉ với số người tự ứng cử hiện nay, người dân đã có thể thấy câu ngụy biện xưa nay "Không có đảng CSVN thì lấy ai lãnh đạo, dẫn dắt đất nước!" là điều cực kỳ phi lý. Rõ ràng bên ngoài đảng hiện có rất nhiều người có thể điều hành đất nước hơn xa các quan chức đảng. Và còn quan trọng hơn nữa, chỉ khi nào đất nước được điều hành bởi những người ngoài đảng thì đất nước mới mong đi ngược lại hướng lạc hậu hiện nay; mới thoát ra khỏi thảm trạng cứ mò mẫm đi về hướng CNXH mà không biết nó là gì, ở đâu; để rồi càng ngày càng suy bại và lệ thuộc ngoại bang.

Bước tiến lớn trong nhận thức

000_Hkg10249322-622
Ảnh minh họa chụp tại Đại hội đảng cộng sản lần thứ 12 tổ chức ở Hà Nội hôm 25/1/2016.
Việc các nhà hoạt động xã hội dân sự ra ứng cử quốc hội còn đánh dấu một bước tiến lớn trong nhận thức về tiến trình đấu tranh chung cho tương lai đất nước. Rõ ràng mọi nỗ lực tạo đổi thay tích cực cho xã hội, nếu muốn bền vững và không dựa vào từ tâm của vài cá nhân đang nắm quyền, thì các đổi thay đó phải được LUẬT HÓA và phải có một hệ thống công quyền bị ràng buộc thi hành luật pháp. Nếu không đạt được 2 điều kiện nền tảng đó, các nỗ lực của xã hội dân sự, dù có thành công, chỉ mang tính giai đoạn, chóng tan biến. Nói cách khác, mọi con đường tạo đổi thay tích cực và lâu bền cho toàn xã hội, sớm muộn gì, cũng đều dẫn đến các nỗ lực mang tính chính trị và tiến vào đấu trường chính trị.
Thực tế đó dẫn đến nhu cầu nhận thức lại về vai trò của các đảng phái chính trị. Thử nhìn rộng ra các nước dân chủ trên thế giới, người ta có thể thấy các đảng phái chính trị ra đời không nhất thiết chỉ vì thèm khát và muốn giành cho được cái ghế cai trị cao nhất để hưởng độc quyền độc lợi cho mình. Cách nhìn đó quá hạn hẹp và chỉ phản chiếu hoàn cảnh sống quá lâu trong tình trạng độc đảng bất thường tại Việt Nam. Phần lớn người dân Việt chỉ có một nền tảng để phóng chiếu là đảng CSVN và cách hành xử của họ.
Thật ra, các đảng phái chính trị tại các nước khác có nhiều vị trí và đóng nhiều vai trò khác nhau. Họ dám đứng ra gồng gánh đất nước trong những ngày tháng vừa phôi thai ra đời như các đảng chính trị tại Israel, Singapore; hay trong những giai đoạn thập tử nhất sinh như các đảng chính trị tại Âu Châu trong thế chiến 2. Có những đảng chính trị chỉ muốn tạo thay đổi bền vững về một lãnh vực mà họ cho là cực kỳ hệ trọng nhưng các đảng xanh, chuyên tranh đấu cho môi sinh, tại Âu Châu. Có những đảng chính trị chấp nhận nhiều hy sinh chỉ vì muốn đưa đất nước ra khỏi tình trạng ngập tràn bất công và thù hận như đảng của ông Nelson Mandela tại Nam Phi; ra khỏi tình trạng tụt hậu, chia rẽ chủng tộc, và lệ thuộc ngoại bang như đảng của bà Aung San Suu Ki, ....
Do đó, đã đến lúc cần nhìn đúng đắn rằng đảng phái chính trị đơn thuần là những nhóm hoạt động có tổ chức hữu hiệu trong môi trường chính trị. Có đảng xấu xa, ác độc, xử dụng đất nước như bệ ngồi, nhưng cũng có đảng rất lý tưởng, vị tha, và trung thành với dân tộc. Không nên gộp chung tất cả đảng phái chính trị thành một loại và đồng hóa với đảng CSVN.
Với các định nghĩa rút từ thực tế nêu trên, khó có ai còn làm cái việc vô lý là tự vạch lằn ranh giữa các nhóm hoạt động XHDS với các nhóm vận động dân chủ, vận động thay đổi guồng máy cầm quyền. Sự phân vùng ấy vừa là hành động tự trói tay chân vốn còn rất yếu của mình, vừa rơi vào cái bẫy phân hóa tinh vi của chế độ độc tài.
Năm 2016 quả là năm sôi nổi ngay từ những ngày đầu. Nếu Đại Hội XII vừa đánh dấu một bước thụt lùi lớn của đảng CSVN, thì việc xuất hiện hàng loạt các ứng viên bên ngoài tầm tay của đảng lại đánh dấu một bước tiến rất lớn, mang tính bộc phá, trong nỗ lực cứu lấy đất nước của dân tộc Việt.
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

My Blog List